Chuyện về phụ nữ trong lịch sử ngành hàng hải thế giới

Chuyện về phụ nữ trong lịch sử ngành hàng hải thế giới

Lịch sử ngành hàng hải chứa đầy các câu chuyện về những con tàu buồm vĩ đại, miệt mài trên các đại dương rộng lớn trên thế giới, được điều hành bởi những thủy thủ hiên ngang, nam tính. Có thể tàu buồm thế kỷ 19 là một thế giới do nam giới thống trị và quyết định, nhưng phụ nữ chắc chắn cũng là một phần của lịch sử phong phú này.

Vì những lý do khác nhau, qua nhiều thế kỷ phụ nữ đã bước ra ngoài tình trạng này, vượt ra ngoài các định nghĩa xã hội về thế nào là nữ tính phù hợp. Những lý do này bao gồm việc phải ứng phó với các tình huống khẩn cấp trên biển, nghĩa vụ yêu nước trong thời chiến, nhu cầu về kinh tế, cơ hội có cuộc sống tốt hơn, tìm kiếm một cuộc phiêu lưu, sự tận tâm và tình yêu.

Phụ nữ trong thời đại tàu buồm

Nghề đi biển không dành cho phụ nữ trong thời đại tàu buồm. Một người phụ nữ có thể cải trang thành đàn ông và đặt một cái tên giả để được làm việc trên tàu; nhưng nếu cô ấy bị phát hiện thì sự nghiệp của cô sẽ kết thúc. Cách duy nhất để hầu hết phụ nữ tham gia vận hành một tàu buôn trước năm 1900, khi mà những chiếc thuyền buồm còn ngự trị tối cao, là kết hôn hoặc là con gái của thuyền trưởng. Thuyền trưởng và vợ cùng sống trong cabin của họ. Nếu cô ấy quan tâm và thuyền trưởng cho phép, vợ ông ta có thể hỗ trợ ông điều hành con tàu.

Vợ của thuyền trưởng có thể đã học nghệ thuật dẫn tàu trong một trường học hoàn thiện của một nữ sinh, hoặc từ chồng của cô ấy hoặc từ một trong những sĩ quan trên tàu

.

Bà Hansen đang xác định vị trí tàu trên tàu buồm AURORA

Thuyền trưởng và bà Harrison trong cabin của họ trên con tàu

của Anh Eva Montgomery, ở Puget Sound, WA, ca. 1904.

Thông thường, khi con gái của thuyền trưởng đến tuổi thiếu niên, cô sẽ bị cấm tham gia vào công việc của thủy thủ vì cô đã được mong đợi là trở thành một quý bà. Trẻ em không được phép đi lên boong dâng sau lái (là boong của thuyền trưởng ở sau lái tàu). Tuy nhiên, người cha có thể đã quay mặt đi khi con trai ông lẻn tới để giúp các thủy thủ một tay. Trên các con tàu của Anh, thuyền trưởng có thể thuê vợ mình làm sĩ quan hoặc quản trị viên, hoặc vợ của thuyền phó nhất có thể là quản trị viên. Quản trị viên giữ hồ sơ tài chính, phục vụ bữa ăn và dọn dẹp các khu buồng ở.

Laura lúc 8 tuổi (ảnh do Hiệp hội Lịch sử Vườn nho Martha cung cấp)

Thông qua các nhật ký và thư từ đã cho ta một bức tranh có thể bao gồm phụ nữ và trẻ em gái trên những chiếc thuyền buồm. Laura Jernegan, tám tuổi, đã viết bức thư này (bức thư ngày 6 tháng 3 năm 1870 của Laura Jernegan gửi cho bà của cô ở Edgartown, Martha’s Vineyard (Được phép của Bộ sưu tập Cá voi Nicholson, Thư viện Công cộng Providence.) Trong khi đi thuyền cùng với cha cô, Thuyền trưởng Jared Jernegan trên tàu săn cá voi của la mã.

Trong những trường hợp khẩn cấp, vợ của thuyền trưởng có thể cũng giúp một tay. Caroline Mayhew, vợ của Thuyền trưởng William Mayhew của tàu săn cá voi Powhaton ngoài Martha’s Vineyard, đã sở hữu các kiến thức công việc về hàng hải và y học thực tế. Năm 1846, khi một trận dịch hạch bùng phát trên con tàu, bà đã lên làm thuyền trưởng thay cho người chồng bị bệnh của mình. Sau đó bà phục vụ ông ta và các thuyền viên ốm yếu và đã cứu sống họ.

Tàu FLYING COUD một chiếc buồm trong thời Cơn sốt vàng do Thuyền trưởng Josiah Creesy chỉ huy từ năm 1851-1855. Eleanor Creesy đã đi cùng chồng trong suốt sự nghiệp của ông ấy và phục vụ với vai trò một sỹ quan boong.

Nữ anh hùng, Nội trợ và Người lao động chăm chỉ

Trong thế kỷ 19, có nhiều phụ nữ đã đảm nhận những trách nhiệm vốn được coi là dành riêng cho nam giới và được toàn thế giới chú ý vì những hành động anh hùng của họ. Những người phụ nữ khác, vì nhu cầu kinh tế, đã vượt ra khỏi vai trò khuôn mẫu là người vợ và người mẹ.

Một phụ nữ nổi tiếng là Mary Patten đã tạm thời chỉ huy một chiếc tàu buồm vào những năm 1850. Vào tháng 7 năm 1856, tàu Neptune’s Car rời thành phố New York để đến San Francisco. Thuyền trưởng Joshua Patten chỉ huy và người đi cùng là vợ ông, Mary, mười chín tuổi và đang mang thai. Cô kết hôn năm mười sáu tuổi và đã từng đi biển trong một số chuyến đi biển trong đó chồng cô đã dạy cô cách dẫn tàu.

Không tin tưởng viên thuyền phó nhất nên thuyền trưởng loại anh ta khỏi vị trí và đảm nhận nhiệm vụ của người này. Khi con tàu đang đi vòng qua mũi Cape Horn, thuyền trưởng Patten bị ốm, thính giác và thị lực đều suy giảm. Người phải tiếp nhận việc chỉ huy tàu là thuyền phó hai, nhưng anh này đã không thể dẫn tàu. Mary Patten đã đảm nhận quyền chỉ huy, với sự giúp đỡ của thuyền phó hai và thủy thủ đoàn. Cô đã điều hành con tàu và chăm sóc chồng trọn vẹn từng giây từng phút. trong 50 ngày cô không thể thay quần áo. Con tàu đến San Francisco tháng 11 năm 1856. Các nhà bảo hiểm của con tàu đã thưởng cho cô 1.000 đô la. Mary Patten và chồng trở về New York, nơi cô sinh hạ một cậu con trai. Đáng buồn thay, ba tháng sau chồng cô qua đời.

Eliza Thorrold, Thuyền trưởng tàu lai, 1897,

một trong những nữ thuyền trưởng có bằng sớm nhất ở Bờ Tây Hoa kỳ.

Eliza Thorrold tiếp tục vận hành con tàu kéo chạy bằng hơi nước dài 44-foot co tên Ethel and Marion trên Vịnh San Francisco sau khi chồng bà, thuyền trưởng Charles Thorrold, bị chết vì nhiễm độc máu vào năm 1893. Mặc dù bà điều khiển tàu kéo, nhưng luật pháp đòi hỏi phải có thuyền trưởng có bằng ở trên tàu nếu tàu đang dùng để kinh doanh. Bà Thorrold đã trao đổi về việc nộp đơn xin cấp bằng thuyền trưởng tàu kéo trong một cuộc phỏng vấn đăng trên tờ báo San Francisco Call, ngày 30 tháng 7 năm 1897: “Tôi đã suy nghĩ về động thái này từ lâu. Thực tế là hoàn cảnh buộc tôi phải trở thành thuyền trưởng con tàu của mình. Như bạn biết đấy, chồng tôi đã mất cách đây vài năm và để lại cho tôi năm đứa con thơ dại và chỉ có con tàu kéo Ethel và Marion này để làm ăn. Việc tôi không phải trả tiền cho một thuyền trưởng cho chiếc tàu này sẽ hỗ trợ cho cả gia đình tôi. Bốn năm trên Vịnh đã giúp tôi quen thuộc với việc điều khiển tàu thực tế và tất cả những gì tôi muốn là một cái bằng để làm những gì tôi có đủ năng lực để làm”.

Đến năm 1900, Eliza đã bán chiếc tàu kéo và vào năm 1915 bà cùng con trai mở một cửa hàng bán kem và kẹo trong khu phố và bà điều hành nó cho đến khi qua đời vào năm 1935.

Năm 1877, một người phụ nữ là bà Crapo đã quyết tâm ở bên chồng và nhất quyết hành trình cùng ông trong một chuyến đi táo bạo dài 3000 dặm băng qua Đại Tây Dương đến Anh trên một chiếc thuyền hở nhỏ. Chồng bà ban đầu không cho bà đi cùng nhưng bà vẫn quyết tâm đi theo. Cả hai đã đến Anh an toàn và Thomas Crapo mô tả về sự tới đích của họ: “Đám đông tụ tập chờ một cơ hội gặp được chúng tôi. Bà Crapo là phụ nữ được tôn vinh”.

Bà Alice Durkee, vợ của Alfred Durkee, người từng là thuyền trưởng của tàu Balclutha từ năm 1894-1899, đã cùng chồng đi biển trong suốt 30 năm sự nghiệp đi biển của ông. Bà sinh một cô con gái, Inda Francis, ở trên con tàu.

Ảnh vợ chồng bà Alice Durkee

Tại các xưởng đóng tàu

Năm 1562, góa phụ người Hà Lan Geert Jans thừa kế một xưởng đóng tàu từ chồng và điều hành nó. Năm 1770, Mary Lacy, cải trang thành nam giới, nhận được chứng chỉ thợ đóng tàu của mình ở Anh và làm việc cùng với những người thợ đóng tàu nam. Vào những năm 1940, bà Fulton thừa kế và điều hành xưởng đóng tàu của chồng ở phía bắc San Francisco. Ngoài những trường hợp ngoại lệ như trên thì chỉ có các cuộc chiến tranh lan rộng mới đưa phụ nữ đến với nghề đóng tàu.

Những lời kêu gọi dành cho phụ nữ trong các cuộc chiến tranh để đảm nhận công việc của nam giới. Nhiều phụ nữ đã đáp lời kêu gọi, thường là để kiếm được mức lương cao. Trong suốt thế kỷ 20, Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai đã mở ra việc làm cho phụ nữ hơn bao giờ hết với việc tuyển dụng số lượng lớn nhất diễn ra trong Thế chiến thứ hai. Trong cuộc chiến đó, phụ nữ được trả lương cao hơn khoảng 40% trong các công việc sản xuất công nghiệp so với trong lĩnh vực dịch vụ (giáo viên, y tá, thư ký, phục vụ bàn, v.v.)

Vào giữa năm l943, ở đỉnh điểm của sự bùng nổ ngành đóng tàu, gần 65% công nhân xưởng đóng tàu ở Bờ Tây nước Mỹ là phụ nữ. Tuy nhiên, rất ít phụ nữ giữ các vị trí lãnh đạo như quản đốc hoặc giám sát so với nam giới hoặc lao động hỗn hợp.

Bà Tina Hill, người từng làm việc tại North American Aircraft ở Los Angeles trong Thế chiến II, cho biết: “Chiến tranh khiến tôi sống tốt hơn. Chị tôi luôn nói rằng Hitler là người đã đưa chúng tôi ra khỏi căn bếp của những người da trắng”. (Trích Rosie the Riveter của Penny Colman). Trong tất cả các nhóm người thiểu số, phụ nữ Mỹ gốc Phi gặp khó khăn nhất trong việc tìm việc làm trong chiến tranh. Ban đầu, họ được thuê làm người bảo vệ, đầu bếp và phục vụ đồ ăn. Vào cuối chiến tranh, tình trạng thiếu lao động trầm trọng đến mức họ được chấp nhận làm công việc đóng tàu – nhưng chỉ ở những vị trí có kỹ năng thấp hơn.

Nữ công nhân trong một xưởng đóng tàu ở Mỹ trong Thế chiến II

Nhiều nam giới trong và ngoài nước lo sợ rằng phụ nữ có thể muốn tiếp tục độc lập về tài chính và xã hội sau chiến tranh. Tuy nhiên, sau chiến tranh đại đa số phụ nữ đã bị sa thải khỏi các công việc truyền thống dành cho nam giới và phải quay trở lại cuộc sống trước đây của họ.

Công việc ở xưởng đóng tàu không chỉ dành cho phụ nữ da trắng mà cho cả người châu Á, người Latinh và người Mỹ gốc Phi. Trước đây chưa từng có việc phụ nữ nói chung đã trải qua sự độc lập về tài chính và xã hội như thời gian vào cuối chiến tranh. Một nữ công nhân của Marinship lưu ý rằng trải nghiệm tại xưởng đóng tàu “… khiến phụ nữ tự tin. Nó mang lại cho chúng tôi cảm giác an toàn … Bởi vì tôi đã có thể tham gia vào công việc chiến tranh, tôi sẽ không bao giờ cảm thấy bất lực nữa.” Nhà sử học Susan M. Hartman tuyên bố rằng những năm 1940 “… đã đặt tiền đề cho phụ nữ thức tỉnh trong những năm 1960.” (Trích dẫn từ Marinship at War của Charles Wollenberg). Rất ít phụ nữ nhận ra rằng Chiến tranh thế giới thứ hai đã thay đổi cuộc sống của họ một cách lớn lao. Phụ nữ đã “tạo ra tia lửa” hơn bao giờ hết chỉ đơn giản là do đã thay thế nam giới trong lực lượng lao động. Bây giờ chúng ta cùng nhìn lại những người đóng tàu trong Thế chiến thứ hai và tôn vinh những đóng góp to lớn của họ.

Vì là công việc dễ thực hiện nhất và đòi hỏi ít nỗ lực thể chất nhất nên ban đầu phụ nữ được thuê chủ yếu làm thợ hàn (ảnh). Khi chiến tranh tiếp diễn, nhu cầu về phụ nữ cho ngành đóng tàu lớn đến mức các công ty bắt đầu thử việc phụ nữ trong nhiều công việc sản xuất khác nhau. Người ta thấy rằng họ không chỉ có thể thực hiện một cách thành thạo mà nhiều phụ nữ còn thể hiện tốt hơn nam giới trong cùng một công việc.

Các nữ thợ hàn trong Thế chiến thứ II.

Phụ nữ sau tay lái

Cho tới gần đây, phụ nữ không còn phải hóa trang thành nam giới để theo đuổi sự nghiệp sông nước nhưng vẫn gặp nhiều thách thức trong lĩnh vực do nam giới thống trị này. Bất chấp những thách thức này, ngày càng có nhiều phụ nữ theo đuổi ước mơ, trau dồi kỹ năng và kiếm sống trong ngành hàng hải.

Bà Sue Milligan đã sở hữu và điều hành con tàu Henry Bay trong mười sáu năm, đánh bắt cá tuyết đá ở vùng biển phía đông Đảo Vancouver, British Columbia. “Ngay khi tôi nhìn thấy tàu Henry Bay, tôi biết đó là chiếc tàu mà tôi muốn. Tàu được đóng vào năm 1948, cùng năm sinh với tôi, và nó có cùng một lượng chiếm nước (1948 tấn), 5,3 feet, vì vậy tôi đã mua nó”.

Jan Tiura bắt đầu làm việc trên tàu kéo vào giữa những năm 1970. Để tích lũy kinh nghiệm và thời gian đi biển, cô làm đầu bếp và thủy thủ boong và năm 1979 được nhận vào chương trình đào tạo của Crowley dành cho thuyền trưởng tàu kéo. Cô hiện là một thuyền trưởng trong đội tàu kéo của Crowley Red Stack. Công việc của cô bao gồm lai dắt các sà lan, hỗ trợ tàu cập cảng và rời cảng. Theo Jan, “Ưu điểm chính của công việc này là chỉ ở trên mặt nước. Đó là một thế giới duy nhất. Bạn ở đó mọi lúc, trong mọi thời tiết. Nhiệm vụ của thuyền trưởng là đảm bảo rằng chúng tôi sẽ sống sót”.

Chiếc ca nô chở hoa tiêu, cách Cầu Cổng Vàng mười một dặm, chở Thuyền trưởng Wagner lên một chiếc tàu. Cô trèo lên tàu trên một chiếc thang dây và được hộ tống đến buồng lái. Cô nắm quyền chỉ huy hành hải của con tàu, dẫn con tàu đi qua Vịnh San Francisco.

Năm 1974 Wagner nằm trong nhóm phụ nữ đầu tiên được nhận vào Học viện Hàng hải Thương mại Hoa Kỳ tại Kings Point, NY. Sau nhiều năm làm việc trên biển, cô đã trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lớp có được Bằng Thuyền trưởng hạng không giới hạn. Tấm bằng này cho phép cô làm thuyền trưởng trên bất kỳ tàu nào, ở bất kỳ đâu trên thế giới.

Năm 1987, cô được nhận vào chương trình học việc của hoa tiêu SF Bar và hiện nay vẫn là hoa tiêu nữ đầu tiên và duy nhất trên Vịnh này. Thỉnh thoảng, khi thấy hoa tiêu Wagner bước lên buồng lái, một thuyền trưởng giật mình và hỏi: “Hoa tiêu đâu?” Wagner nói, “Tôi nói với ông ấy, tôi, hoa tiêu đây thưa Thuyền trưởng … Ca nô của tôi nói lên là có hoa tiêu ở trên đó rồi. Áo đồng phục của tôi nói lên rằng tôi là hoa tiêu. VHFcủa tôi nói lên rằng tôi là hoa tiêu. Tôi là hoa tiêu!”.

————————–

Chia sẻ:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *